Welcome to UatKimHuong's place
UatKimHuong
read my profile
sign my guestbook

Visit UatKimHuong's Xanga Site!

Location: Boston, Massachusetts


Message: message me


Member Since: 10/28/2003

SubscriptionsSites I Read

Posting Calendar

|<< oldest | newest >>|
view all weblog archives

Get Involved!

Suggest a link

Recommend to friend

Create a site

Thursday, December 08, 2005

The Women of Pacific South ("An Nam"*): Trưng Trắc Trưng Nhị and Triệu Thị Trinh

At the very beginning of the state of Vietnam in about 200 B.C.E, the young state of Viet was under the control of the most powerful Chinese empire: the Qin (Tần). Shortly after the collapse of the Qin dynasty (after Qin Shi Huang’s death), the Vietnamese were absorbed into the Han empire. For nearly a thousand years, the Vietnamese were under Chinese rule, they worked hard for the Chinese, but unceasingly fought against their rule. Despite the Chinese efforts to assimilate Vietnam, the Vietnamese sense of ethnic and cultural identity proved inextinguishable.  During Chinese domination, the Vietnamese social institution and customs were strongly influenced by those of China, and so was the family concept about filial piety and gender inequality. However, the most striking difference between family tradition in China and Vietnam was that the Vietnamese women possessed more rights both in practice and by law.

There was a Vietnamese saying: “ when enemies come to home, women also fight”. Since ancient time, Vietnam had strong historical tradition associating heroic women with the defense of the homeland.

The Trung Sisters

The Trung Sisters were the first but by no mean the only example. Vietnamese historians recounted their story:

 “…The ladies used the female art against their irreconcilable foe; shirts and hairpins sang of patriotic righteousness, uttered a solemn oath at the inner door of the ladies’ quarters, expelled the governor, and seized the capital…Were they not grand heroines?…Our two ladies brought forward an army of all the people, and, establishing a royal court that settled affair in the territories of the sixty-five strongholds,...”(World History text book)

Hai Bà Trưng-Trung Sisters

In 39 AD, This Sach, a landed aristocrat husband of Trung Trac (the elder sister), was killed by the Chinese. In revenge, Trung Trac and her sister Trung Nhi, raised the flag of rebellion. They led an army of 80,000 people, declared:

Foremost, I will avenge my country,
Second, I will restore the Hung lineage,
Third, I will avenge the death of my husband,
Lastly, I vow that these goals will be accomplished
.

That yeat, they drove the Chinese out and proclaimed their territorries. They declared themselves as Trung Vuong (Trung Queen). However, the victory was short-lived. They drowned themselves in the Hat river. Their experience had contributed to the strong sense of Vietnamese women, inspired pride, and patriotism in many later anti-colonial uprisings. 

Trieu Thi Trinh ("Lady Trieu")

About 200 years after the Trung sister’s revolt, Trieu Thi Trinh was born. She was orphaned at a young age and lived with her brother Trieu Quoc Dat. At the age 18, she left home, raised an army and established her own independent territory in the jungle. When her brother came to visit her, he tried to discourage her military aspiration. She responded with: “ I want to ride the stormy sea, subdue the tempest waves, to kill the sharks, drive out the Ngo aggressors and restore our land, undo the ties of tyranny, and never bow to be someone’s servant”

At age 20, Trieu Thi Trinh led her army, fought and won more than thirty major battles against the Chinese. Kids in Vietnam learn about her through folk tales, described her riding into battle on an elephant, with a sword on each hand. The Chinese soldier were terrified , just speaking of her name. There was a famous quote said by them: “ It would be easier to fight a tiger, than to fight the Lady Trieu.”

Triệu Thị Trinh (Ðông Hồ painting)

Like the Trung’s uprising, lady Trieu’s army was also suppressed by the mighty Chinese. Never surrendered to the enemy, she jumped into a river and drowned herself. She died at the age of 23.

Bow to the ladies of An Nam, they are amazing heroic women I have known. I could not image myself at the age, living in 2000 years ago, have the guts to do what they did for their country’s independence.

*An Nam was Vietnam's state name during the Chinese's domination. When Vietnam restored her independence in 939 AD (Ngo Quyen period), the state changed her name to "Dai Viet" (Great Viet).


Sunday, November 27, 2005

For English version, translated by anonymouswish click here

Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư

                     

Từ ngàn năm, lãnh thổ nước Đại Việt trải qua không biết bao lần bị xâm phạm bởi nước Trung Quốc. Mặc dầu là "Châu Chấu đá xe", nhưng những người anh hùng xuất chúng như Tể Tướng Lý Thường Kiệt, đã chỉ huy binh mã đánh quân Tống không còn manh giáp, buộc phải nghị hòa quay đầu trở về cố quốc.

Lý Thường Kiệt, nhà quân sự kiệt xuất

Lý Thường Kiệt vốn tên là Ngô Tuấn, còn có tên là Thường Kiệt, quê ở làng An Xá, huyện Quảng Đức (nay là Gia Lâm, Hà Nội).

Bình Sinh là người khôi ngô tuấn tú, thông minh, nhanh nhẹ. Từ nhỏ ông đã ham chuộng cả văn lẫn võ, thích đọc sách và tập luyện võ nghệ. Hàng ngày, Ngô Tuấn thường luyện cung kiếm bày bố trận đồ, đêm chong đèn đọc binh pháp. Ông chóng thành tài và liên tiếp được thăng chức.

Ngô Tuấn vào cung phụng sự triều đình năm 20 tuồi, sau đó được vua Lý Thánh Tông (chồng Nguỵên Phi Ỷ Lan) cử làm tướng tiên phong đánh Champa để giữ yên mặt phía nam. Trận đánh năm đó (1069), ông lập công lớn, được vua phong làm Phụ Quốc Thái Úy, là tước Khai Quốc Công và ban cho họ Lý (do đó có tên Lý Thường Kiệt).

Ba năm sau, vua Lý Thánh Tông mất, lúc này Thái tử Kiền Đức mới đựoc bảy tuổi lên nối ngôi, lấy niên hiệu là Lý Nhân Tông. Nguyên Phi Ỷ Lan lên làm Linh Nhân Thái Hậu, bà đảm nhiện trọng trách là phụ chính cho vị vua còn nhỏ tuổi. Lý Thường Kiệt được phong làm Tể tướng.

Lúc bấy giờ ở Trung Quốc, nhà Tống đang gặp khó khăn về mọi mặt. Tể Tướng của nhà Tống là Vương An Thạch đưa ra giải pháp để giải quyết những bế tắc của Trung Quốc. Một trong những biện pháp của Vương An Thạch là phải tạo nên uy danh cho nhà Tống bằng cách bành trướng xuống phía Nam, tức là xâm lăng Đại Việt. Vua nhà Tống thuận ý, lập tức ra lệnh cho tích trữ lương thảo, thao luyện quân sĩ tại các thành Ung Châu (Quảng Tây), Khâm Châu và Liêm Châu (Quảng Đông) để chuẩn bị cho cuộc xâm lược.

Biết được mưu đồ đen tối này, các bá quan đại thần Đại Việt, ngày đêm hội đàm, đưa ra kế sách ngăn chặn bọn ngoại bang xâm phạm lãnh thổ. Tình hình nguy ngập, Lý Thường Kiệt, là người đầu tiên trong lịch sử dân tộc dám bạo gan đề ra: "Ngồi yên đợi giặc sao bằng đem quân đánh trước để chặn các mũi nhọn của giặc". Ông tâu lên với Linh Nhân Thái Hậu, được bà tin tuởng chấp thuận chiến lược "phạt Tống". 

Trước hết để củng cố nội bộ, ông đề nghị cùng Thái Hậu mời cựu Thái Sư Lý Đạo Thành về lại triều đình giữ chức Thái phó trông coi việc triều chính. Trước họa nước, Lý Đạo Thành hợp lực cùng Lý Thường Kiệt tích cực chuẩn bị việc đối phó, bên trong giữ yên nội triều, chuẩn bị kháng chiến chống ngoại bang.

Cuối năm 1075, Lý Thường Kiệt đem 100 ngàn quân tiến thẳng sang đất Tống, đánh vào Khâm Châu, Liêm Châu và Ung Châu. Sau 42 ngày vây hãm, quân Việt chiếm được thành Ung Châu. Sau khi phá hủy phần lớn căn cứ hậu cần của quân Tống, tháng 4 năm 1076, Lý Thường Kiệt ra lệnh cho rút quân về nước.

Vua Tống bấy giờ không ngờ một nước nhỏ bé mà dám to gan xâm phạm "con rồng hùng mạnh Trung Hoa", lập tức ra lệnh cử tướng Quách Quỳ đem 300 ngàn quân chia theo hai đường thủy bộ tiến phương nam, sang xâm lược Đại Việt vào năm 1077.

Cuối năm ấy, Lý Thường Kiệt cho lập phòng tuyến kiên cố dọc theo sông Như Nguyệt để chặn địch (chặn quân địch đổ bộ lên đất liền). Đồng thời ông cũng cho quân đón đánh thủy binh địch (đánh chặn trên sông). Do bố trận của Lý Thường Kiệt, quân của Quách Qùy đánh đến sông Như Nguyệt thì bị chặn.

Trên phòng tuyến Như Nguyệt năm đó, chiến trận diễn ra ác liệt, nhưng quân Tống không sao vuợt qua được phòng tuyến Như Nguyệt, đành đóng trại chờ viện binh. Để cổ vũ quân sĩ, ông làm nên bài thơ Nam Quốc Sơn Hà và đang đêm cho người vào đền thờ Trương Hát ở bờ Nam sông Như Nguyệt giả thần nhân đọc vang lên:

Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

Dịch Nghĩa
 Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành định phận ở sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời

Nhờ thế tinh thần quân sĩ thêm hăng hái. Sau hơn ba tháng, đánh không thắng lực lượng bộ binh Việt, không thể sang sông vì thiếu thủy binh hỗ trợ, quân Tống bị chết mất quá nửa lại thêm bệnh tật đe dọa, Quách Quỳ lâm vào thế quẫn bách. Lý Thường Kiệt liền cho quân vượt sông, quyết một trận, đánh thẳng vào trại giặc. Phần thì bất ngờ, phần vì sĩ khí quân Việt kiên cường, quân Tống chống đỡ yếu ớt, số bị chết, số bị thương quá nửa. Lý Thường Kiệt liền cho người sang nghị hòa, mở đường cho  quân Tống rút quân về nước, giành lại giang sơn, giữ vững bờ cõi Đại Việt. Từ đấy quân Tống từ bỏ ý định xâm lược Đại Việt, nhà Tống buộc phải công nhận Đại Việt là nước một độc lập.

Thật là "Sông núi nước Nam vua Nam ở", Lý Thường Kiệt đã cho nhà Tống hiểu rõ thiên lý này. Trận đánh Như Nguyệt đi vào lịch sử Việt Nam, làm rạng danh một nước Việt nhỏ bé trước một Trung Hoa cường mạnh, với sĩ khí kiên cường sắt thép.




<bgsound src="http://us.f13.yahoofs.com/bc/43ca9588_61c7/bc/My+Documents/chucxuan.wma?bfhH52DBIrGE98ml">